Cập nhật :Thứ hai, 10-10-2016
Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA
 
 
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Sau khi gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN vào năm 1995, Việt Nam ngày càng tích cực tham gia vào các thỏa thuận, ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội.
Việc tham gia các hiệp định FTA đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam như

Mở rộng thị trường và hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các DN Việt Nam có cơ hội lớn trong việc mở rộng thị trường thông qua các biện pháp cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ rào cản thương mại, có cơ hội tiếp cận với thị trường rộng lớn hơn là những đối tác của nước/vùng lãnh thổ có hiệp định FTA với Việt Nam thông qua các hiệp định FTA riêng rẽ mà họ đã ký kết. Từ đó, DN Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu.

Thanh lọc, phát triển được các DN có năng lực cạnh tranh

Dưới sức ép cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh toàn cầu hoá và tham gia các hiệp định FTA, chỉ có các DN mạnh, có đủ năng lực cạnh tranh với các DN nước ngoài và trong nước mới có thể trụ được, còn lại sẽ bị bật khỏi thị trường nếu năng lực cạnh tranh yếu. Đây là cơ hội thanh lọc các DN ốm yếu, không có sự chuẩn bị bài bản. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, nhằm hỗ trợ cho các nước phát triển thấp như Việt Nam, các đối tác cũng có những sáng kiến hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm

Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh là cơ hội tốt để các DN Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cơ hội càng mở rộng hơn khi AEC trở thành hiện thực vào 2015, sẽ cho phép tự do di chuyển lao động có tay nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia và lao động có tay nghề của ASEAN tham gia vào hoạt động liên quan đến thương mại và đầu tư qua biên giới.

Để tận dụng được các cơ hội, hạn chế, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, Việt Nam phải nỗ lực cải cách mạnh mẽ, nhanh và toàn diện về thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là đổi mới tư duy trong hoạch định chính sách theo nguyên tắc của kinh tế thị trường.

Bên cạnh các cơ hội lớn, cũng có không ít thách thức đang đặt ra đối với Việt Nam yêu cầu cần phải thay đổi để khắc phục các hạn chế, yếu kém để tận dụng thời cơ phát triển. Cụ thể:

Thứ nhất, về năng lực quản lý. Thách thức đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước cần phải hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp nội địa trong khi năng lực cạnh tranh vẫn yếu kém. Thực tế, hệ thống pháp luật và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập quốc tế nói chung và tham gia FTA nói riêng hiện còn nhiều bất cập. Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ chuyên gia còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết. Ngoài ra, những thách thức từ việc giảm thuế nhập khẩu dẫn đến giảm thu ngân sách; Cơ cấu XNK thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, đặc biệt với các đối tác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và ASEAN; Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa trung ương với địa phương chưa thực sự hiệu quả, từ đó dẫn đến lúng túng khi đưa ra chính sách và xử lý các vấn đề phát sinh trong khi sức ép từ các ràng buộc cam kết trong Hiệp định FTA ngày càng tăng.

Thứ hai, năng lực cạnh tranh của DN còn yếu. Mặc dù được tạo điều kiện, các DNNN vẫn chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phát triển công nghệ. Khu vực tư nhân đã phát triển nhưng quy mô còn nhỏ và hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ; các ngành sản xuất trong nước phải đối mặt với sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng của hàng nhập khẩu. Đặc biệt, trong nông nghiệp, Việt Nam còn thiếu gắn kết giữa các ngành, địa phương, quá trình triển khai chưa có sự chuẩn bị đúng mức về nội lực cho cả DN và nông dân. Do vậy, nhiều DN sản xuất hàng nông sản đã gặp phải tình trạng giảm sút lợi nhuận, nợ tăng cao, dẫn đến phá sản hoặc chuyển hướng sang nhập khẩu. Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển, nhập khẩu bị phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Tỷ lệ cung ứng nguyên liệu trong nước của một số ngành công nghiệp như ô tô chỉ khoảng 20 - 30% và dệt may là gần 50%... Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA chưa có chuyển biến mạnh, vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nông sản, các mặt hàng công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu… Đặc biệt, có một số mặt hàng như cao su, dừa, rau quả, than đá… chúng ta đã tập trung quá lớn vào thị trường Trung Quốc (chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này) mà không đa dạng hóa thị trường. Tình hình trên đã dẫn đến việc phụ thuộc lớn vào một thị trường và khi đối tác giảm nhập khẩu thì chúng ta đã phải gánh chịu những hậu quả không nhỏ… Do vậy, dẫn đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam chưa cao.

Thứ ba, mặc dù đã chủ động tham gia các Hiệp định FTA nhưng Việt Nam đôi khi còn bị lôi cuốn theo tình thế, thiếu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, chưa có chiến lược bài bản rõ ràng khi tham gia các hiệp định FTA, đặc biệt là mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị chưa tốt. Có thể nói, hiện Việt Nam chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản trong nước khi tham gia các hiệp định FTA và chưa tận dụng tốt các ưu đãi trong các hiệp định FTA đã ký kết để cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán vãng lai và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững.

 

Tuấn Khanh

 
In bài này  In bài này Quay lại Quay lại
Bạn đọc viết
Off Telex VNI VIQR 
Các tin khác

Các tin đã đưa ngày:   

Mới cập nhật
6 tháng đầu năm 2017 thu hút vốn đầu tư FDI, DDI thấp hơn cùng kỳ năm 2016 (Thứ hai, 19-6-2017)(70)
Tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 18.300 tỷ đồng. (Thứ năm, 15-6-2017)(1833)
Phiên họp thường kỳ UBND tỉnh tháng 6: Bàn giải pháp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH những tháng cuối năm (Thứ tư, 14-6-2017)(58)
Ngành Công Thương: Chuyển biến tích cực từ những cam kết với cử tri cả nước (Thứ tư, 24-5-2017)(55)
Tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh (Thứ sáu, 12-5-2017)(50)
Thực hiện Đề án 01 của Tỉnh ủy theo hướng tinh gọn, hiệu quả và đúng chủ trương, quy định của trung ương (Thứ tư, 10-5-2017)(179)
Các tin đọc nhiều nhất
Công ty Phanh Nissin Việt Nam- Mô hình doanh nghiệp điển hình (Thứ tư, 13-4-2011)(11091)
Công ty TNHH EXEDY Việt Nam (Vĩnh Phúc) - môi trường làm việc lý tưởng cho người lao động (Thứ hai, 4-4-2011)(11071)
Đức ủng hộ giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình (Thứ ba, 17-6-2014)(6495)
Khai trương siêu thị BigC Vĩnh Phúc (Thứ năm, 25-11-2010)(6173)
Hồng Kông cam kết hỗ trợ hệ thống ngân hàng (Thứ năm, 16-10-2008)(5908)
Ngành công nghiệp ô-tô: Gần 20 năm, vẫn ì ạch giai đoạn khởi động (Thứ năm, 15-7-2010)(5562)

© 2013 - 2018 Bản quyền thuộc về Trung tâm Thông tin – Xúc tiến Thương mại Vĩnh Phúc
Giấy phép số 123/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày ngày 27 tháng 8 năm 2013
Trưởng ban biên tập: Nguyễn Ngọc Long – Giám đốc Trung tâm TT-XTTM
Trụ sở: Khai Quang-Vĩnh Yên-Vĩnh Phúc ĐT/Fax: 0211.3843.456;
Email: xttm@vinhphucit.gov.vn/ infotech129@gmail.com